| 'Tôi xin được phép hướng sự quan tâm của quư ngài vào một bài báo mà tôi vừa công bố'. Với một câu ngớ ngẩn như thế, gửi qua mail đến một người bạn đồng nghiệp, mà cách mạng hóa thế giới toán học th́ chỉ có Perelman mới có thể làm được. 4. Grigori Perelman - thiên tài toán học Perelman sinh năm 1966 tại St. Petersburg. Ông học tập ở Nga và những trường đại học danh tiếng của Mỹ. Ông đă từ chối những đề nghị mời giảng dạy. Hiện nay ông sống ở Nga, có thể là sống cùng với mẹ, thích đi xem hát kịch và không có việc làm. Trong thời gian học tập,ông đă dành thời gian cho toán học h́nh cầu của Henri Poincaré. Qua đó ông đă chạm phải siêu vấn đề về sự phỏng đoán Poincaré, bài giải của nó đă quyết định cuộc đời của ông. Trong bài báo mà ông đưa lên mạng vào năm 2002, Perelman đă chứng minh được phỏng đoán Poincaré và đă giải được vấn đề khó nhất của tất cả mọi thời đại - một bước ngoặt thế kỷ của toán học. Có lẽ đó là thành tích lớn nhất mà một bộ năo riêng lẻ đă làm được. Một con người có thể tạo ra được h́nh thể của vũ trụ không? Bộ năo của Perelman có năng suất hơn cả cơ thể của một vận động viên Olympic, thế nhưng ông lại giấu ḿnh với thế giới. Henri Poincaré sống cách đây 100 năm và là cha đẻ của môn cấu trúc liên kết (hay c̣n gọi là Tô-pô học: Topology), một lĩnh vực chuyên môn của toán học, c̣n được gọi là h́nh học về miếng cao su. Poincaré nhận ra rằng, về nguyên tắc tất cả các h́nh thể của thế giới đều có thể dẫn trở về h́nh cầu. Nếu người ta lấy một quả cầu bằng cao su, người ta có thể nặn nó cho đến khi nó nh́n giống như một cái tai thỏ hoặc như một ống nghe điện thoại. Nhưng nếu người ta không được phép làm tổn thương đến bề mặt của quả cầu, th́ không thể nặn nó trở thành một cái ly cà phê, v́ ly cà phê có một cái lỗ ở quai. Poincaré phỏng đoán rằng, ư nghĩa cơ bản này của quả cầu không chỉ có giá trị trong không gian 3 chiều của chúng ta, mà c̣n cả trong những không gian nhiều chiều. Sự chứng minh cho phỏng đoán này phức tạp đến nỗi, 100 năm qua các nhà toán học đă hoài nghi - cho đến khi Grigori Perelman tŕnh bày công tŕnh của ông trên Internet. Công tŕnh này tất nhiên không dễ hiểu: các đồng nghiệp của Perelman đă bỏ ra 4 năm miệt mài cho đến khi họ hiểu được công việc của ông. Kể cả ngày nay cũng chỉ có một số rất ít các nhà toán học hiểu được cách Perelman xây dựng luận chứng của ông như thế nào. Một thành tích vĩ đại như thế, vậy mà Perelman đă tạo ra bước đột phá chỉ có một ḿnh. Ông đă làm việc trong một viện nghiên cứu nhỏ, không hề tiếp xúc với các nhà toán học khác. Ngay cả trong cái thế giới không b́nh thường của toán học th́ Perelman vẫn luôn là một kẻ lập dị, người có hàng ngàn điều đồn thổi. Sau khi có tin rằng ông được đề cử nhận giải Nobel toán học, ông đă biến mất. Ông đă xin thôi việc, không trả lời phỏng vấn, không trả lời email. Các nhà chuyên môn ước tính, c̣n cần cả trăm năm nữa để có thể hiểu được toàn bộ công tŕnh của Perelman. Điều đó hoàn toàn có ư nghĩa. Phỏng đoán Poincaré tạo ra những tŕnh bày quan trọng về h́nh thể của cả vũ trụ. Nhờ có Perelman, những nhà nghiên cứu một ngày nào đó sẽ hiểu được vũ trụ nhiều hơn. 5. Marvin Minsky - cha đẻ của trí thông minh nhân tạo Marvin Minsky sinh năm 1927 ở New York, tốt nghiệp môn toán tại Đại học Havard, ông lấy học vị tiến sĩ ở đại học Princeton. Thế nhưng ông đă dành gần trọn cuộc đời nghiên cứu tại Học viện kỹ thuật Massachusets. Minsky đă nhận hàng loạt giải thưởng hàn lâm viện, và trước sau ông vẫn được xem là nhà tư tưởng tiên phong của công việc nghiên cứu trí thông minh nhân tạo. 'Ông ấy là người thông minh nhất mà tôi đă từng gặp'. Nhà nghiên cứu về ư thức Roger Schank nói về Marvin. Và trí thông minh của Minsky chỉ biết duy nhất có một mục đích: hiểu được trí thông minh – và đưa nó vào một chiếc máy. Khi Marvin Minsky bắt đầu mơ về những cái máy biết suy nghĩ, th́ con người vẫn c̣n đang tính toán bằng chiếc bàn tính. Năm 1956, cách đây 50 năm, ông là nhà tiên phong mang tính quyết định của phạm vi nghiên cứu 'trí thông minh nhân tạo'. Kể từ đó Minsky đă đưa 'chuyên ngành của ông' tiến tới. Ông đă thành lập pḥng nghiên cứu về trí thông minh nhân tạo ở Học viện kỹ thuật Massachusets - một cơ sở nghiên cứu, được ví như là toà thánh Vatican trong địa phận về trí thông minh nhân tạo.Và Minsky ở đây rơ ràng là Đức Giáo Hoàng. Trí thông minh nhân tạo có h́nh thành trong hệ thống mạng lưới hay không? Khi những chiếc máy khá đơn giản có khả năng giải quyết các vấn đề, tạo thành một mạng lưới, sẽ phải h́nh thành một ư thức. Ông đă tạo ra những mạng thần kinh, những cánh tay cơ học và những bộ phận cơ thể khác cho robot, ngoài ra c̣n những cái máy làm thay đổi điệu nhạc. Sách của ông chất được đầy cả kệ, giải thưởng kín khắp tường. Nhưng thành tích lớn nhất của Minsky là cuốn 'The Society of Mind' (Xă hội của trí tuệ). Trong đó ông đă tŕnh bày một lư thuyết, làm sao để có thể tạo ra được trí thông minh nhân tạo. Ông hỏi: ' Sự khéo léo kỳ diệu nào đă tạo ra trí thông minh của chúng ta?' Câu trả lời của ông: ' Sự khéo léo đó là, chẳng có sự khéo léo nào hết. Người ta có thể chế tạo được một trí thông minh từ nhiều phần, mà tất cả những phần đơn lẻ đó hoàn toàn không có trí tuệ'. Theo đó th́ trí thông minh xuất hiện hoàn toàn tự nhiên, khi mà nhiều đơn vị được kết mạng với nhau, trong đó từng nhiệm vụ nhỏ và đơn giản được hoàn thành. Tất cả chúng ta đều mang cái bằng chứng tốt nhất cho lư thuyết này ở trong đầu: Bộ năo của chúng ta. Trí tuệ h́nh thành trong năo qua những mạng lưới vô cùng phức tạp từ những đơn vị đơn giản - những tế bào thần kinh. Lư thuyết mạng lưới của Minsky về trí thông minh đă lan tràn rất nhanh trong khoa học và kỹ thuật. Ngày nay mạng lưới máy vi tính có trong từng pḥng làm việc, các nhà sinh học đă phát hiện trong nhiều loài sinh vật trí thông minh bầy đoàn: một nhóm lớn những sinh vật đơn lẻ không thông minh như ong đă hoàn thành sự suy luận kỳ diệu thực sự, khi những bộ năo của chúng được liên kết trong bầy với nhau. Để làm được điều đó chỉ cần những nguyên tắc phản ứng đơn giản và một h́nh thức trao đổi thông tin nào đó. Các nhà nghiên cứu ngày nay thậm chí sử dụng những mạng lưới vi tính để t́m kiếm trí thông minh ngoài trái đất. Dự án SETI@home kết nối khoảng 5 triệu máy vi tính của cá nhân trên khắp thế giới. Năng suất làm việc không được sử dụng đến của những máy tính đó giúp khoa học t́m kiếm một thông điệp từ những tín hiệu vô tuyến đến từ vũ trụ. Cho đến ngày hôm nay, chúng ta vẫn chưa tạo ra được trí thông minh nhân tạo thực sự, nhưng điều đó có thể là ở chỗ, những mạng lưới của chúng ta vẫn chưa đủ phức tạp. Chuyện đó phải thay đổi: Nhà thần kinh học người Thụy Sĩ Henry Markram đang phỏng theo bộ năo con người trên máy siêu vi tính. Ngay cả máy tính mạnh nhất cũng vẫn chỉ tạo được một đơn vị cấp thấp và nhỏ của bộ năo. Markram hy vọng vào máy tính tương lai. Nó cần phải đủ mạnh để kết nối được hàng ngàn đơn vị cấp thấp đó với nhau. 'Như thế có thể xuất hiện cái ǵ đó tương tự như ư thức nhân tạo', nhà nghiên cứu nghĩ thế. Mặc dù tuổi ngày càng cao, nhưng Marvin Minsky hăy c̣n lâu mới chịu nghỉ ngơi. Mới đây ông lại làm cuộc cách mạng hóa lĩnh vực chuyên môn của ông thêm lần nữa. Quyển sách 'The Emotion Machine' (Máy cảm xúc) của ông xuất hiện trong tháng 11 qua sẽ chỉ ra cho việc nghiên cứu trí thông minh nhân tạo một con đường mới. Ông tin tưởng: 'Cảm xúc chỉ là một thể loại khác của trí thông minh'. Khi máy vi tính học cách suy nghĩ, th́ trước tiên chúng phải biết được xúc cảm là ǵ. Những nhà nghiên cứu trong pḥng thí nghiệm đang chuẩn bị, bằng những xảo thuật phần mềm, tạo cho máy vi tính cảm giác sợ hăi hoặc vui mừng. 6. Richard Dawkins - nhà cách mạng của sự tiến hóa Richard Dawkins sinh năm 1941 ở Kenia và đến nước Anh khi c̣n là một đứa trẻ. Lĩnh vực chuyên môn của Dawkins là nghiên cứu thái độ cư xử của người và động vật, c̣n được gọi là động vật tính học hoặc nhân tính học. Ông học tại Đại học Oxford, nơi ngày nay ông là giáo sư. Dawkins là một trong những tác giả viết sách về sinh học thành công và nhiều ảnh hưởng nhất. Thậm chí Đại học Oxford đă lập ra giải thưởng Dawkins dành cho những nhà nhân tính học đặc biệt giỏi. Ông không những đă suy nghĩ tiếp tục lư thuyết của Darwin mà c̣n cách mạng hóa nó nữa. Có phải gene của chúng ta là bất tử? Dù là người, chuột hay cây thông - tất cả những vật thể sống tồn tại chỉ là cái vỏ bảo vệ cho những đơn vị thông tin của gene. Kết luận của Dawkins: Không phải các loài là trung tâm của sự chọn lọc, mà là gene. Ông nhận thấy, gene điều khiển hành động của chúng ta để đảm bảo cho sự phát triển của chúng. 'Cơ thể chỉ là những cái máy sinh tồn và là vỏ bọc cho gene, mà bản thân gene là bất tử', Dawkins nghĩ thế. Thật sự là gene nhờ có những phiên bản copy giống hệt nhau mà tồn tại qua những khoảng thời gian rất lớn trong nhiều chủng loại. Chẳng hạn như hồng cầu, một chất màu đỏ trong máu của tất cả những động vật có vú. Gene điều khiển sự sản xuất của nó đă phải được h́nh thành qua sự đột biến, khi cuộc sống không diễn ra ở dưới nước. Kể từ đó nó đă phát triển trên toàn trái đất. Tiền đề về gene bất tử của Dawkins giải quyết được một vấn đề đau đầu kể từ thời Darwin: tại sao những cá nhân lại hy sinh sự sống của chính ḿnh cho những cá nhân khác? Sự hy sinh đó phản bác lại thuyết 'sự tồn tại của kẻ mạnh'. Từ khi có Dawkins th́ sự việc rơ ràng: chúng ta giúp đỡ kẻ yếu, bởi v́ chúng ta có cùng bộ gene với họ. Điều đó có giá trị trong gia đ́nh, và cả trong một tập hợp nhỏ của cả một loài. Dawkins đă mở rộng ư tưởng về gene của ông thành ư tưởng về tài sản văn hóa. Tài sản văn hóa là những thông tin văn hóa lan truyền trong một xă hội, cũng như gene phát triển trong một vật thể sống. Gene tự sao chép trong mô h́nh của những phân tử DNA, và cả những thông tin văn hóa cũng để lại các dấu vết thực bằng cách chúng thay đổi cấu trúc năo. Thông tin văn hóa có thể là những ư tưởng về thời trang, một giai điệu nhạc hay một công nghệ mới. Nếu chúng ta học một thông tin văn hóa, chẳng hạn như lái xe đạp, những liên kết mới sẽ được tạo ra trong bộ năo của chúng ta. Và khi chúng ta dạy con cái học lái xe, chúng ta tiếp tục truyền thông tin văn hóa. Cũng giống như gene, thông tin văn hóa có thể gần như là bất tử và đột biến. Thông tin văn hóa về 'chế tạo công cụ đập' đă có ít nhất là 600.000 năm, nhưng đă tự chuyển đổi từ cái nêm sang búa ŕu. Một ư tưởng đă đặc biệt tác động đến Dawkins: tôn giáo. 'Tất cả chỉ là virus ở trong đầu!' ông cho là như vậy. Cũng như virus máy vi tính, nó lan truyền và ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống tư tưởng. Chẳng có ǵ là lạ khi ngày nay Dawkins đang đứng giữa một cuộc chiến về văn hóa chống lại những tín đồ thiên chúa giáo bảo thủ. Ông bảo vệ sinh học chống lại việc t́m cách thay thế thuyết tiến hóa bằng Sáng thế thư của họ (Sáng thế thư là đoạn đầu của Cựu ước trong thánh kinh viết về sự sáng tạo ra thế giới của Tạo hóa). Phần cuối Hoàng An (theo Thế giới của những điều kỳ diệu) |